Khơi thông nguồn lực trí thức kiều bào: Kỳ vọng bứt phá từ Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng

Lan Phương
Chia sẻ
(VOV5) - Đội ngũ trí thức kiều bào có thể đóng vai trò chuyên gia thiết kế giải pháp, đồng chủ nhiệm đề tài, hoặc cố vấn chiến lược cho các chương trình lớn trong các lĩnh vực.

Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đưa khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành “đột phá chiến lược” để Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên mới. Tuy nhiên, để những chủ trương đúng đắn này thực sự trở thành nguồn lực vật chất, Việt Nam cần sự chung tay của đội ngũ trí thức trong nước và ngoài nước.

Phóng viên VOV5 phỏng vấn Tiến sĩ Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân & Đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc (VKBIA), Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia - Trí thức Việt Nam - Hàn Quốc (VKEIA), một trí thức kiều bào đang làm việc và có nhiều đóng góp quan trọng trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Hàn Quốc. Với góc nhìn từ một quốc gia top đầu thế giới về công nghệ, TS. Trần Hải Linh đánh giá như thế nào về những điểm mới trong Văn kiện lần này?

Khơi thông nguồn lực trí thức kiều bào: Kỳ vọng bứt phá từ Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng - ảnh 1TS. Trần Hải Linh, kiều bào tại Hàn Quốc.

Phóng viên: Thưa Tiến sĩ Trần Hải Linh, là một trí thức kiều bào đang làm việc tại Hàn Quốc, quốc gia có hệ sinh thái khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phát triển hàng đầu Châu Á, ông đánh giá như thế nào về những điểm mới, mang tính đột phá trong chủ trương phát triển khoa học - công nghệ được nêu trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV của Việt Nam?

TS. Trần Hải Linh: Dưới góc nhìn của một trí thức kiều bào, tôi cho rằng Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV của Đảng đã thể hiện một bước chuyển rất quan trọng, mang tính đột phá cả về tư duy phát triển lẫn cách tiếp cận đối với khoa học - công nghệ.

Thứ hai, Văn kiện lần này thể hiện tư duy phát triển rất hiện đại, khi không chỉ nói đến đầu tư cho khoa học - công nghệ theo nghĩa truyền thống, mà nhấn mạnh đến hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, bao gồm: thể chế, nhân lực, doanh nghiệp, viện - trường, thị trường công nghệ và liên kết quốc tế. Cách tiếp cận này rất tương đồng với mô hình mà Hàn Quốc đã kiên trì xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Ngoài ra, Văn kiện cũng cho thấy sự thay đổi về tư duy quản lý, khi nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu - đổi mới sáng tạo, coi thất bại là một phần của quá trình phát triển. Đây là điều mà các quốc gia có nền khoa học - công nghệ phát triển như Hàn Quốc, Israel hay Hoa Kỳ đã thực hiện từ rất sớm.

Tóm lại, tôi cho rằng các chủ trương về khoa học - công nghệ trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng không chỉ thể hiện quyết tâm chính trị rất cao, mà quan trọng hơn là đã tiệm cận với chuẩn mực tư duy phát triển của các quốc gia tiên tiến. Vấn đề còn lại và cũng là thách thức lớn nhất là tổ chức thực hiện, làm sao để những định hướng đúng đắn đó nhanh chóng được cụ thể hóa thành chính sách, chương trình và dự án thực chất, có thể đo lường được, qua đó tạo ra những bước bứt phá rõ nét cho Việt Nam trong giai đoạn tới.

Phóng viên: Theo ông, các định hướng coi khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt cho phát triển đất nước sẽ tạo ra những cơ hội gì để đội ngũ trí thức kiều bào, trong đó có cộng đồng trí thức Việt Nam tại Hàn Quốc, tham gia sâu hơn vào các chương trình nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực cho Việt Nam?

TS. Trần Hải Linh: Theo tôi, việc Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt cho phát triển đất nước đã mở ra không gian tham gia rộng mở và thực chất hơn cho đội ngũ trí thức kiều bào, trong đó có cộng đồng trí thức Việt Nam tại Hàn Quốc, một cộng đồng đang làm việc trực tiếp trong các hệ sinh thái công nghệ, nghiên cứu và sản xuất tiên tiến hàng đầu Châu Á.

Khơi thông nguồn lực trí thức kiều bào: Kỳ vọng bứt phá từ Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng - ảnh 2Ông Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch VKBIA, và TS. Jung Dae Ki, Hiệu trưởng Trường Đại học Luật và Kinh doanh Quốc tế Hàn Quốc, ký chương trình hợp tác.

Trước hết, cơ hội lớn nhất nằm ở việc tham gia trực tiếp vào các chương trình, dự án quốc gia về khoa học - công nghệ và chuyển đổi số. Khi Nhà nước chuyển mạnh từ tư duy “mời gọi chung chung” sang đặt hàng theo bài toán cụ thể của phát triển, đội ngũ trí thức kiều bào có thể đóng vai trò chuyên gia thiết kế giải pháp, đồng chủ nhiệm đề tài, hoặc cố vấn chiến lược cho các chương trình lớn trong các lĩnh vực, như: bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng xanh, đô thị thông minh hay công nghiệp số. Với lợi thế làm việc trong môi trường quốc tế, trí thức kiều bào có thể giúp Việt Nam tiếp cận nhanh hơn với công nghệ lõi và chuẩn mực toàn cầu, tránh đi theo con đường “thử - sai” kéo dài.

Thứ hai, các định hướng mới tạo điều kiện để thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động chuyển giao công nghệ gắn với doanh nghiệp, thay vì chỉ dừng ở hợp tác học thuật. Tại Hàn Quốc, rất nhiều trí thức Việt Nam đang làm việc trong các tập đoàn công nghệ, trung tâm R&D, startup đổi mới sáng tạo. Nếu có cơ chế linh hoạt, họ có thể trở thành cầu nối chuyển giao công nghệ, mô hình quản trị R&D, cũng như kinh nghiệm thương mại hóa kết quả nghiên cứu vào Việt Nam, đặc biệt thông qua các dự án hợp tác công - tư hoặc đầu tư công nghệ cao.

Thứ ba, trong lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trí thức kiều bào có thể tham gia sâu hơn thông qua các mô hình mới, như: giảng dạy bán thời gian, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, xây dựng chương trình đào tạo liên kết quốc tế, hoặc đào tạo đội ngũ kỹ sư, chuyên gia cho các ngành mũi nhọn. Cộng đồng trí thức Việt Nam tại Hàn Quốc, với thế mạnh về kỹ thuật, công nghệ và quản trị công nghiệp, hoàn toàn có thể đóng góp trực tiếp vào quá trình nâng chuẩn đào tạo của Việt Nam tiệm cận với các nền kinh tế phát triển.

Quan trọng hơn, các định hướng này nếu được thể chế hóa tốt sẽ giúp trí thức kiều bào chuyển từ vai trò “người hỗ trợ” sang “đối tác phát triển”, cùng tham gia kiến tạo chính sách, hệ sinh thái và giá trị lâu dài cho đất nước. Đây chính là cơ hội để kết nối sâu sắc hơn trí tuệ Việt toàn cầu với quá trình phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Phóng viên: Từ kinh nghiệm thực tiễn tại Hàn Quốc, ông cho rằng Việt Nam cần ưu tiên đổi mới những cơ chế, chính sách nào để thu hút, trọng dụng và phát huy hiệu quả chất xám của trí thức kiều bào, bảo đảm các chủ trương trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng sớm đi vào cuộc sống?

TS. Trần Hải Linh: Từ kinh nghiệm thực tiễn làm việc, kết nối và quan sát mô hình phát triển khoa học - công nghệ tại Hàn Quốc, tôi cho rằng để thu hút, trọng dụng và phát huy hiệu quả chất xám của trí thức kiều bào, Việt Nam cần ưu tiên đổi mới không chỉ ở lời mời gọi, mà quan trọng hơn là ở cơ chế vận hành, môi trường làm việc và cách sử dụng nhân tài, để các chủ trương rất đúng đắn trong Văn kiện Đại hội XIV có thể nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Khơi thông nguồn lực trí thức kiều bào: Kỳ vọng bứt phá từ Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng - ảnh 3Diễn đàn hợp tác địa phương xúc tiến đầu tư & kết nối giao thương Việt - Hàn là hoạt động thiết thực nhằm tăng cường hợp tác địa phương, thúc đẩy xúc tiến đầu tư, mở rộng giao thương, kết nối cộng đồng doanh nghiệp Việt - Hàn.

Trước hết, cần đổi mới mạnh mẽ cơ chế “đặt hàng - trao quyền - đánh giá theo kết quả” đối với trí thức, nhà khoa học kiều bào. Thực tiễn tại Hàn Quốc cho thấy, Nhà nước không can thiệp sâu vào quá trình chuyên môn, mà tập trung xác định rõ bài toán phát triển, giao quyền chủ trì cho các nhóm chuyên gia có năng lực, đồng thời đánh giá minh bạch bằng sản phẩm đầu ra. Việt Nam nên chuyển từ tư duy mời trí thức về “tham gia hội thảo, tư vấn chung” sang đặt hàng cụ thể theo lĩnh vực, dự án, chương trình quốc gia, gắn với trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích rõ ràng.

Thứ hai, cần xây dựng cơ chế làm việc linh hoạt, đa dạng hình thức cống hiến, thay vì chỉ tập trung vào mô hình “về nước lâu dài”. Phần lớn trí thức kiều bào đang giữ vị trí chuyên môn quan trọng tại các trường đại học, viện nghiên cứu, tập đoàn công nghệ quốc tế. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách cho phép tham gia bán thời gian, theo dự án, theo nhiệm vụ, kể cả làm việc từ xa, nhưng vẫn được thừa nhận đầy đủ về mặt pháp lý, học thuật và chuyên môn. Điều này sẽ giúp Việt Nam tận dụng được nguồn lực trí tuệ toàn cầu mà không bị giới hạn bởi không gian địa lý.

Thứ ba, cải cách mạnh các thủ tục hành chính liên quan đến công nhận văn bằng, chức danh khoa học, điều kiện làm việc và đãi ngộ. Nhiều trí thức kiều bào còn e ngại khi trở về tham gia các dự án trong nước vì thủ tục rườm rà, thiếu đồng bộ giữa các bộ, ngành. Cần có cơ chế một cửa, tiêu chuẩn hóa và minh bạch, thậm chí có “luồng ưu tiên” cho các chuyên gia, nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài tham gia các chương trình trọng điểm quốc gia.

Cuối cùng, điều quan trọng nhất là xây dựng niềm tin và văn hóa trọng dụng nhân tài. Trí thức kiều bào không chỉ cần chính sách tốt mà còn cần một môi trường minh bạch, tôn trọng chuyên môn, khuyến khích sáng tạo và chấp nhận khác biệt. Khi niềm tin được củng cố, tôi tin rằng trí thức Việt Nam ở nước ngoài, trong đó có cộng đồng tại Hàn Quốc, sẽ sẵn sàng đồng hành lâu dài, thực chất cùng đất nước, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu lớn mà Đại hội làn thứ XIV đã đề ra.

Phóng viên: Xin cảm ơn TS. Trần Hải Linh.

Phản hồi

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu