Xung đột leo thang tại Trung Đông đang khiến thị trường năng lượng toàn cầu rơi vào trạng thái căng thẳng, buộc nhiều quốc gia triển khai các biện pháp khẩn cấp nhằm bảo đảm an ninh năng lượng, từ tăng dự trữ dầu, tìm nguồn cung thay thế đến điều chỉnh chính sách nhập khẩu.
Một tàu chở khí LPG đang neo đậu do giao thông giảm mạnh ở eo biển Hormuz, trong bối cảnh xung đột giữa Mỹ và Israel với Iran, tại Shinas, Oman, ngày 11/3/2026. Ảnh tư liệu: REUTERS/Benoit Tessier |
Một trong những động thái đáng chú ý là quyết định ngày 07/03 của Hàn Quốc tăng cường nhập khẩu dầu thô từ Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE). Theo đó, Seoul đã "chốt" nhập thêm hơn 6 triệu thùng dầu thô từ UAE trong nỗ lực khẩn cấp nhằm ổn định thị trường nhiên liệu trong nước khi giá dầu tăng nhanh do căng thẳng liên quan tới Iran.
Là quốc gia nhập khẩu dầu lớn thứ tư thế giới và hầu như không có nguồn dầu nội địa, Hàn Quốc phụ thuộc nặng nề vào nguồn cung từ Trung Đông, đặc biệt từ Saudi Arabia, UAE và Kuwait. Vì vậy, bất kỳ gián đoạn nào tại khu vực này đều có thể gây tác động trực tiếp tới giá nhiên liệu và hoạt động của nền kinh tế. Không chỉ Hàn Quốc, nhiều nước Châu Á khác cũng đang chuẩn bị cho kịch bản khủng hoảng năng lượng. Nhật Bản cũng phụ thuộc gần như hoàn toàn vào dầu nhập khẩu từ Trung Đông, khi khoảng 70% lượng dầu Trung Đông nhập khẩu vào Nhật Bản được vận chuyển qua eo biển Hormuz, khiến quốc gia này đặc biệt dễ bị tổn thương trong bối cảnh tuyến vận tải chiến lược này bị gián đoạn như trong những ngày qua. Tính tới cuối năm 2025, Nhật Bản dự trữ lượng dầu đủ cho tiêu thụ nội địa trong khoảng 254 ngày. Trong đó, các kênh thuộc chính phủ có khoảng 146 ngày dự trữ, trong khi các kênh tư nhân nắm khoảng 101 ngày dự trữ.
Ông Naveen Das, nhà phân tích dầu thô tại công ty Kpler. Nguồn: REUTERS |
Hôm 11/03, chính phủ Nhật Bản cho biết kể từ ngày 16/3 nước này buộc phải xả kho dự trữ dầu nhằm giảm áp lực đối với giá xăng và các loại năng lượng khác. Lượng dầu xả kho tương đương 45 ngày dự trữ và được lấy từ cả các kho dự trữ chiến lược quốc gia lẫn các kho dự trữ từ nhân. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1978 Nhật Bản phải đưa ra quyết định tương tự. Ông Naveen Das, nhà phân tích dầu thô tại công ty Kpler - công ty hàng đầu toàn cầu về dữ liệu, phân tích và thông tin thị trường thời gian thực, nhận định: “Các nước Đông Nam Á hay Hàn Quốc có kho dự trữ dầu trong khoảng từ 20-50 ngày, do đó tình hình hiện nay thực sự nguy cấp. Các nước này đã có một số chính sách, trước tiên là trả trước và đảm bảo mua sớm dầu từ các nước sản xuất. Tiếp theo, các quốc gia này cũng cố gắng áp dụng một số biện pháp trong nước nhằm tiết kiệm nhiên liệu, như tuần làm việc ngắn hơn, làm việc tại gia, hạn chế một số hoạt động kinh tế...”
Một tài xế đổ xăng tại trạm xăng MOL ở Eger, Hungary, ngày 10/3/2026. Ảnh: REUTERS/Marton Monus |
Cùng với việc tích cực mua thêm dầu, tiết kiệm nhiên liệu hay xả kho dự trữ, một số quốc gia khác đã bắt đầu tìm kiếm tuyến vận chuyển thay thế. Pakistan, quốc gia phụ thuộc nhiều vào dầu nhập khẩu, đã đề nghị Saudi Arabia chuyển hướng một phần nguồn cung dầu qua cảng Yanbu ở Biển Đỏ nhằm tránh tuyến vận tải qua eo biển Hormuz đang tiềm ẩn rủi ro cao. Một quốc gia Nam Á khác là Ấn Độ cũng đang yêu cầu các nhà máy lọc dầu trong nước tìm kiếm các nguồn cung cấp thay thế.
Trên bình diện quốc tế, các tổ chức lớn, như: Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA), Nhóm các nước công nghiệp phát triển G7 cũng đang phải gấp rút hành động. Hôm 11/03, IEA đã thống nhất giải phóng 400 triệu thùng dầu từ các kho dự trữ chiến lược. Đây là đợt xả kho dự trữ lớn nhất trong lịch sử của cơ quan này, tương đương gần 1/3 tổng lượng dầu dự trữ khẩn cấp khoảng 1,2 tỷ thùng của 32 nước thành viên. Mục tiêu trước mắt của biện pháp này là bù đắp phần thiếu hụt nguồn cung và ổn định thị trường trong bối cảnh tuyến vận chuyển dầu quan trọng nhất thế giới bị gián đoạn.
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, biện pháp này chỉ có tác dụng tạm thời và khó có thể giải quyết tận gốc sự mất cân bằng cung, cầu trên thị trường dầu mỏ toàn cầu. Vấn đề nằm ở quy mô thực sự của cú sốc nguồn cung. Trước khi xảy ra khủng hoảng, mỗi ngày có khoảng 20 triệu thùng dầu thô đi qua eo biển Hormuz, chiếm gần 20% lượng tiêu thụ dầu toàn cầu. Dù một phần dầu của các nước vùng Vịnh đã được chuyển hướng qua các đường ống sang Biển Đỏ, với khoảng 6 triệu thùng mỗi ngày, thì thị trường thế giới vẫn mất gần 14 triệu thùng dầu mỗi ngày. Con số này tương đương với sản lượng dầu của Saudi Arabia, một trong những nước xuất khẩu dầu mỏ lớn trên thế giới.
Trong bối cảnh đó, 400 triệu thùng dầu dự trữ tưởng chừng rất lớn nhưng thực tế chỉ đủ bù đắp thiếu hụt trong một khoảng thời gian rất ngắn. Nếu thị trường thiếu 14 triệu thùng mỗi ngày, lượng dự trữ này về lý thuyết sẽ cạn sau khoảng 1 tháng. Điều này khiến biện pháp giải phóng kho dự trữ chủ yếu mang ý nghĩa "mua thời gian" cho các chính phủ hơn là giải quyết triệt để cuộc khủng hoảng nguồn cung. Clay Siegle, chuyên gia nghiên cứu của Chương trình an ninh năng lượng và biến đổi khí hậu tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS – Mỹ), đánh giá: “Các nước thành viên IEA có lượng dầu dự trữ khoảng 1,2 tỷ thùng trong khi mức độ thiếu hụt do gián đoạn hiện là 20 triệu thùng/ngày. Do đó, trong trường hợp căng thẳng nhất, tức phải sử dụng hết kho dự trữ thì các nước có thể có vài tháng đảm bảo khỏi sự gián đoạn. Nhưng đó sẽ là một động thái quá đột ngột bởi đây là biện pháp cuối cùng mà thị trường dầu mỏ cần có để ứng phó với các gián đoạn tương lai. Tôi cũng không nghĩ các nhà hoạch định chính sách sẽ làm điều này”.
Bên cạnh đó, các chuyên gia năng lượng cũng cảnh báo về những hạn chế về hạ tầng, hậu cần làm giảm hiệu quả của việc xả kho dự trữ. Công suất hệ thống đường ống và vận chuyển hiện nay chỉ cho phép đưa khoảng 4 triệu thùng dầu mỗi ngày ra thị trường. Vì vậy, lượng 400 triệu thùng dầu sẽ phải được bơm dần trong khoảng 3 tháng và việc giải phóng kho dự trữ dầu chiến lược chỉ có thể giúp duy trì hoạt động kinh tế trong ngắn hạn, bảo đảm các trạm xăng vẫn có nhiên liệu và hạn chế cú sốc giá quá đột ngột. Tuy nhiên, nếu tuyến vận tải qua eo biển Hormuz không được khôi phục hoặc xung đột tiếp tục leo thang, nguồn cung dầu toàn cầu sẽ tiếp tục bị thắt chặt. Khi đó, giá dầu có thể tăng mạnh hơn nữa và kéo theo nguy cơ khủng hoảng kinh tế trên phạm vi toàn cầu.